Tình hình kinh tế – xã hội cả nước tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022

Tháng tư năm 2022

Chăn nuôi

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng phát triển ổn định. Chăn nuôi lợn và gia cầm đang hồi phục do các doanh nghiệp, trang trại, hộ chăn nuôi chủ động được nguồn giống, liên kết tiêu thụ sản phẩm đầu ra, đảm bảo vệ sinh, an toàn sinh học. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi vẫn gặp khó khăn do giá thức ăn ở mức cao, nguy cơ tái phát dịch tả lợn châu Phi lớn, vì vậy cần có các biện pháp phòng và xử lý dịch hiệu quả, nhất là trong giai đoạn thời tiết thay đổi, chuyển mùa.

Hình 2. Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng 4/2022 so với cùng thời điểm năm trước

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 1

Tính đến ngày 24/4/2022, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở 5 địa phương; dịch tả lợn châu Phi còn ở 27 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 4 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Tháng 4/2022, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 30,3 nghìn ha, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,8 triệu cây, tăng 2,1%. Thời tiết trong tháng thuận lợi nên các địa phương tích cực triển khai trồng rừng, một số tỉnh có tiến độ trồng rừng cao như: Yên Bái đạt 3,2 nghìn ha, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, Nghệ An 2,5 nghìn ha, tăng 7,9%, Thanh Hóa 2 nghìn ha, tăng 4,8%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 4/2022 ước đạt 1,6 triệu m3, tăng 5,9%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, bằng cùng kỳ năm trước. Các địa phương có sản lượng gỗ khai thác cao như: Nghệ An đạt 114,5 nghìn m3, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, Thanh Hóa 80,5 nghìn m3, tăng 5,6%, Lạng Sơn 13,9 nghìn m3, tăng 7,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 67,2 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 34,8 triệu cây, tăng 6,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4,7 triệu m3, tăng 4,4%; sản lượng củi khai thác đạt 6,2 triệu ste, tăng 0,7%.

Tình hình thiệt hại rừng 4 tháng đầu năm 2022 giảm so cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại[1] trong tháng ước tính 118,6 ha, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 4,3 ha, giảm 77,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 114,3 ha, tăng 14,6%. Các tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá cao trong tháng là: Kon Tum 26,1 ha, Nghệ An 20,2 ha, Đắk Lắk 12,5 ha. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng bị thiệt hại là 361,8 ha, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 13,7 ha, giảm 89,8% (diện tích rừng bị cháy cùng kỳ năm trước là 134 ha); diện tích rừng bị chặt phá là 348,1 ha, giảm 0,4%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tư ước đạt 736,4 nghìn tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 528,6 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 99,2 nghìn tấn, tăng 7,8%; thủy sản khác đạt 108,6 nghìn tấn, tăng 1,3%.

Ước tính tháng 4 năm 2022, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 380,4 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 252 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 86,5 nghìn tấn, tăng 9,2%; thủy sản khác đạt 41,9 nghìn tấn, tăng 4,2%.

Tính tới trung tuần tháng Tư, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long loại từ 0,8 – 1,1 kg/con dao động ở mức 31.000 – 32.500 đồng/kg[2], tăng hơn 10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước, tăng hơn 30% so với thời điểm đầu năm 2022. Sản lượng cá tra trong tháng ước đạt 125,4 nghìn tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm nguyên liệu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng giảm nhẹ so với tháng trước[3]. Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, siêu thâm canh hai giai đoạn, ứng dụng công nghệ cao ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả, năng suất cao. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Tư ước đạt 60 nghìn tấn, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 22,6 nghìn tấn, giảm 0,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2022 ước đạt 356 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 276,6 nghìn tấn, giảm 0,6%; tôm đạt 12,7 nghìn tấn, giảm 0,8%; thủy sản khác đạt 66,7 nghìn tấn, giảm 0,4%. Khai thác thủy sản biển trong tháng giảm do chi phí xăng, dầu tăng cao, thời tiết đầu tháng Tư bất lợi đối với đánh bắt xa bờ, các tỉnh Duyên hải miền Trung chịu ảnh hưởng bởi các đợt mưa lũ bất thường, sóng lớn. Sản lượng khai thác biển tháng Tư ước đạt 342 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022

2018

2019

2020

2021

2022

Sản xuất trang phục

9,2

7,9

-6,5

8,1

20,1

Sản xuất thiết bị điện

13,1

9,2

-5,2

13,3

19,1

Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân

vào đâu

5,2

10,9

-8,0

13,9

13,2

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

9,1

8,3

-0,3

9,6

12,8

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)

15,8

3,9

2,5

10,5

12,8

Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu

7,5

-3,4

26,4

2,4

11,1

In, sao chép bản ghi các loại

6,3

13,1

-0,4

-5,4

10,6

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

23,6

2,4

10,5

14,6

9,8

3: Hướng dẫn cách sử dụng la bàn chi tiết nhất – Vansu.net

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

10,1

8,8

9,8

11,0

9,7

Khai thác than cứng và than non

9,3

15,0

6,5

-4,3

9,3

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên

-3,1

-4,4

-10,8

-9,9

-1,7

Thoát nước và xử lý nước thải

7,0

4,6

2,5

-3,5

-3,3

Khai khoáng khác

-0,1

-1,5

-2,8

3,8

-4,0

Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế

4,5

78,1

16,5

-2,5

-8,3

Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị

0,1

0,9

-11,3

5,6

-11,5

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

2,3

13,3

1,0

12,5

-12,9

Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 61 địa phương và giảm ở 02 địa phương trên cả nước.

Hình 4. Tốc độ tăng/giảm IIP 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 2

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Thành lập mới

Giải thể

Thành lập mới

Giải thể

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy

17.620

2.044

19,9

-17,8

Công nghiệp chế biến chế tạo

6.470

605

14,5

-22,4

Xây dựng

5.684

3: Tử vi tuổi Sửu tháng 9/2022 – Phất lên như diều gặp gió

458

-0,9

-25,0

Kinh doanh bất động sản

3.606

332

32,2

-3,8

Vận tải kho bãi

2.565

225

21,2

-29,0

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

1.854

297

16,2

-22,3

Sản xuất phân phối, điện, nước, gas

403

129

-25,8

-9,8

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2022 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Tỷ đồng

Ước tính Tháng 4 năm 2022

Ước tính 4 tháng năm 2022

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 4 năm 2022

4 tháng năm 2022

Tổng số

455,5

1.777,4

12,1

6,5

Bán lẻ hàng hóa

363,6

1.429,3

12,4

7,6

Dịch vụ lưu trú, ăn uống

45,5

170,9

14,8

5,2

Du lịch lữ hành

1,2

4,3

49,4

10,5

Dịch vụ khác

45,2

172,9

6,7

-0,6

Mặc dù tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng có quy mô 4 tháng đầu năm 2022 cao hơn nhưng tốc độ tăng vẫn thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước khi xảy ra dịch bệnh.

Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng các năm 2018-2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 6

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022 tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 13,2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 11,5%; phương tiện đi lại giảm 0,01%; may mặc giảm 3,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 4,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Bình Dương tăng 12,2%; Quảng Ninh tăng 11,9%; Cần Thơ tăng 9,4%; Hải Phòng tăng 9,3%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 8,5%; Đồng Nai tăng 7,9%; Hà Nội tăng 6,4%; Khánh Hòa tăng 4,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,2%, Đà Nẵng tăng 2,8%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm 2022 tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của một số địa phương tăng/giảm như sau: Phú Yên tăng 22,5%; Khánh Hòa tăng 20,5%; Đồng Nai tăng 19,3%; Quảng Ninh tăng 14,4%; Cần Thơ tăng 12,1%; Hải Phòng tăng 5,7%; Hà Nội tăng 1,7%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 9,7%; Long An giảm 14,6%, Trà Vinh giảm 15,9%, Đà Nẵng giảm 18,2%; Tiền Giang giảm 30,1%. Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm 2022 tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch từ 15/3/2022 và tháng Tư có các kỳ nghỉ lễ nên nhu cầu du lịch tăng mạnh. Doanh thu của một số địa phương tăng/giảm như sau: Khánh Hòa tăng 370%; Quảng Nam tăng 71,1%; Cần Thơ tăng 46,4%; Quảng Bình tăng 29,6%; Hà Nội tăng 19,8%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 9,6%; Đà Nẵng giảm 22,5%. Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm 2022 giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể mức tăng/giảm của một số địa phương như sau: Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 18,6%; Thanh Hóa tăng 17,3%; Quảng Ninh tăng 15,9%; Cần Thơ tăng 13,3%; Quảng Bình tăng 10,4%; Đà Nẵng tăng 5,8%; Hải Phòng tăng 5,1%; Hà Nội tăng 3,7%; Bình Dương giảm 1,4%; Vĩnh Phúc giảm 2,3%; Thừa Thiên – Huế giảm 3,2%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 12,8%; Nghệ An giảm 14,9%. b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[11] Trong tháng Tư, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 65,45 tỷ USD, giảm 2,9% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 242,19 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,4%; nhập khẩu tăng 15,7%[12]. Cán cân thương mại hàng hóa 4 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 2,53 tỷ USD.

Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 7

Xuất khẩu hàng hóa Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 3/2022 đạt 34,71 tỷ USD, cao hơn 651 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2022 ước đạt 33,26 tỷ USD, giảm 4,2% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,49 tỷ USD, giảm 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 24,77 tỷ USD, giảm 4,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tư tăng 25%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 20,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 26,6%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 122,36 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 31,77 tỷ USD, tăng 21,6%, chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 90,59 tỷ USD, tăng 14,7%, chiếm 74%. Trong 4 tháng đầu năm 2022 có 22 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 63,1%).

Biểu 7. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2022

Ước tính 4 tháng năm 2022 (Triệu USD)

Tốc độ tăng/giảm 4 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

Điện thoại và linh kiện

21.075

15,9

3: Đặt tên con trai 2023 họ Nguyễn hay, ý nghĩa & hợp phong thủy

Điện tử, máy tính và linh kiện

18.040

13,8

Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác

13.452

10,2

Dệt, may

11.778

21,6

Giày dép

7.344

12,6

Gỗ và sản phẩm gỗ

5.479

4,5

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản chiếm 1,3%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89%, giảm 0,5 điểm phần trăm; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 6,8%, giảm 0,5 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 2,9%, tăng 0,6 điểm phần trăm.

Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2022 phân theo nhóm hàng Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 4

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 3/2022 đạt 32,66 tỷ USD, thấp hơn 9 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2022 ước đạt 32,19 tỷ USD, giảm 1,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 11,02 tỷ USD, giảm 5,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,17 tỷ USD, tăng 0,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tư tăng 15,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,3%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 119,83 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 40,97 tỷ USD, tăng 14,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 78,86 tỷ USD, tăng 16,4%.

Trong 4 tháng đầu năm 2022 có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 81,5% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Biểu 8. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2022

Ước tính 4 tháng năm 2022 (Triệu USD)

Tốc độ tăng/giảm 4 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

Điện tử, máy tính và LK

28.928

30,0

Máy móc thiết bị, DC PT khác

13.929

-5,7

Điện thoại và linh kiện

7.437

20,8

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,9%, tăng 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 45,2%, giảm 0,46 điểm phần trăm; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 48,8%, tăng 0,5 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,1%, giảm 0,04 điểm phần trăm.

Hình 14. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2022 phân theo nhóm hàng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 5

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 35,7 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 37,1 tỷ USD. 4 tháng đầu năm 2022 xuất siêu sang EU ước đạt 10,4 tỷ USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 18 tỷ USD, tăng 2%; nhập siêu từ Hàn Quốc 15,2 tỷ USD, tăng 58,3%; nhập siêu từ ASEAN 5,8 tỷ USD, tăng 15,4%; nhập siêu từ Nhật Bản 790 triệu USD, tăng 57,7%.

Hình 15. Thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá chủ yếu Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 6

4 tháng đầu năm 2022 Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Ba xuất siêu 2,05 tỷ USD[13]; quý I xuất siêu 1,46 tỷ USD; tháng Tư ước tính xuất siêu 1,07 tỷ USD. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 2,53 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,5 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 9,2 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 11,73 tỷ USD. c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư tăng nhẹ 0,18% so với tháng trước; tăng 2,09% so với tháng 12/2021 và tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng theo giá nguyên liệu đầu vào sản xuất; dịch vụ giáo dục tăng trở lại tại một số địa phương sau thời gian miễn giảm học phí; giá ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ du lịch tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm CPI tháng Tư tăng. Bình quân 4 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 0,89% của 4 tháng đầu năm 2021, nhưng thấp hơn mức tăng của 4 tháng đầu năm 2017-2020[14]; lạm phát cơ bản tăng 0,97%.

Hình 16. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 4 và 4 tháng các năm giai đoạn 2018-2022 (%) Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 8

Trong mức tăng 0,18% của CPI tháng 4/2022 so với tháng trước có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 3 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

Tám nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch có mức tăng cao nhất với 1,16% do giá dịch vụ du lịch trọn gói tăng 5,22% so với tháng trước do nhu cầu du lịch tăng trở lại. – Nhóm giáo dục tăng 0,96% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm), trong đó dịch vụ giáo dục tăng 1,07% do một số địa phương tăng học phí trở lại năm học 2021-2022 sau thời gian miễn, giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19[15]. – Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,58% do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,02%[16]; giá tiền thuê nhà tháng Tư tăng 0,47%; giá gas tăng 2,63%[17]; giá dầu hỏa tăng 7,25%[18]. Ở chiều ngược lại giá điện sinh hoạt tháng Tư giảm 0,41%[19]; giá nước sinh hoạt giảm 2,11%. – Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,32% do chủ yếu ở các mặt hàng có nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào mùa hè: Giá máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,34% so với tháng trước; giá quạt điện tăng 0,2%; giá tủ lạnh tăng 0,1%… Ở chiều ngược lại, bình nước nóng giảm 0,1% so với tháng trước và chăn, màn, gối giảm 0,15%. – Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,22% do thời tiết chuyển nắng nóng nên nhu cầu tiêu dùng đồ uống giải khát tăng: Giá nước khoáng tăng 0,16%; nước giải khát có ga tăng 0,26%; nước quả ép tăng 0,28%. Rượu bia và thuốc hút lần lượt tăng 0,3% và 0,12% so với tháng trước. – Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,18%, tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ dùng cá nhân như máy dùng điện chăm sóc cá nhân tăng 0,08%; dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 0,12%; dịch vụ hiếu hỉ tăng 0,26%. – Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%. – Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do thời tiết giao mùa, các loại vi rút gây bệnh sinh sôi, người dân tăng mua các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch, trong đó giá nhóm thuốc vitamin, khoáng chất tăng 0,04%; nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm tăng 0,36%; giá nhóm thuốc về đường tiêu hóa tăng 0,11%. (2) Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: – Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,05% (làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,21%[20] (tác động CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm); thực phẩm giảm 0,32%[21] (tác động giảm 0,07 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,51%[22] (tác động CPI chung tăng 0,04 điểm phần trăm). – Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,12%. – Nhóm giao thông giảm 0,59% (làm CPI chung giảm 0,06 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá xăng dầu vào ngày 01/4/2022, 12/4/2022 và 21/4/2022 làm cho giá xăng giảm 2,5%; giá dầu diezen tăng 7,01%. Bên cạnh đó, giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,72% do giá nhiên liệu tăng; giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,42%; phí thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,32%; phí học bằng lái xe tăng 0,11%. Lạm phát cơ bản[23] tháng 4/2022 tăng 0,44% so với tháng trước, tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 0,97% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,1%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm và giá xăng, dầu. Giá vàng trong nước biến động ngược chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/4/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.950 USD/ounce, giảm 0,3% so với tháng 3/2022 do áp lực lợi suất trái phiếu tăng trở lại làm giảm sức hấp dẫn của vàng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 4/2022 tăng 0,73% so với tháng trước; tăng 12,28% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 4 tháng đầu năm 2022 tăng 5,65%. Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong bối cảnh các nhà đầu tư kỳ vọng Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ quyết định đẩy mạnh việc nâng lãi suất trong thời gian tới. Tính đến ngày 25/4/2022, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 100,04 điểm, tăng 1,58 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.016 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2022 tăng 0,07% so với tháng trước và giảm 0,64% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 4 tháng đầu năm 2022 giảm 0,66%. d) Vận tải hành khách và hàng hóa Vận tải hành khách tháng Tư có mức tăng khá cao do dịch Covid-19 đã được kiểm soát cùng với chính sách mở cửa du lịch của Việt Nam từ ngày 15/3/2022 nên nhu cầu đi lại của người dân tăng; số lượng hành khách vận chuyển tăng 6,2% và hành khách luân chuyển tăng cao 13,2% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa duy trì tốc độ tăng 14,5% về vận chuyển và tăng 14,7% về luân chuyển. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách giảm 0,7% và vận chuyển hàng hóa tăng 4,8%, luân chuyển hàng hóa tăng 12%. Vận tải hành khách tháng 4/2022 ước đạt 358,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 12,7% so với tháng trước và luân chuyển 17,2 tỷ lượt khách.km, tăng 19,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, vận tải hành khách đạt 1.224,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 3%) và luân chuyển 56,1 tỷ lượt khách.km, giảm 0,7% (cùng kỳ năm trướcgiảm 2,9%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 1.224,6 triệu lượt khách, giảm 6,3% và 55,2 tỷ lượt khách.km, giảm 1,9%; vận tải ngoài nước đạt 211,4 nghìn lượt khách, tăng 383,2% và 864 triệu lượt khách.km, tăng 443%. Xét theo ngành vận tải, hàng không và đường biển là 2 ngành có tốc độ tăng khá cao trong 4 tháng đầu năm nay, các ngành đường còn lại vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Biểu 5. Vận tải hành khách 4 tháng đầu năm 2022 phân theo ngành vận tải

Số lượt hành khách

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển (Triệu HK)

Luân chuyển (Tỷ HK.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

1.224,8

56,1

-6,3

-0,7

Đường sắt

0,8

0,3

-15,6

-28,7

Đường biển

3,8

0,2

47,9

22,7

Đường thủy nội địa

79,8

Related Posts